Thông báo, hướng dẫn của UBND tỉnh Cao Bằng

Đăng kí nhận Nguồn tin Thông báo, hướng dẫn của UBND tỉnh Cao Bằng
Đã cập nhật: cách đây 40 min 38 sec

Ban hành danh mục sữa thuộc diện thực hiện bình ổn giá

T4, 10/09/2013 - 16:22

Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư quy định danh mục sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi làm cơ sở để Bộ Tài chính thực hiện quản lý giá theo quy định của pháp luật.

Ngày 4/10/2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 30/2013/TT-BYT về Danh mục sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi thuộc hàng hóa thực hiện bình ổn giá.

Thông tư quy định rõ: Danh mục sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi thuộc hàng hóa thực hiện bình ổn giá theo quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 15 Luật Giá, bao gồm:

Thứ nhất, sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ đến 36 tháng tuổi theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ Y tế ban hành.

Thứ hai, sữa và các sản phẩm dinh dưỡng có chứa sữa động vật dưới dạng bột hoặc dạng lỏng có công bố sử dụng cho trẻ em dưới 6 tuổi nhưng không theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định tại Khoản 1 Điều này.

Danh mục này là cơ sở để Bộ Tài chính thực hiện quản lý giá theo quy định của pháp luật về giá.

Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 20/11/2013.

Theo chinhphu.vn

Ban hành Nghị định về hoạt động mỹ thuật

T4, 10/09/2013 - 16:20

Phát triển mỹ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng cao của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước.

Ảnh minh họa

Chính phủ vừa ban hành Nghị định về hoạt động mỹ thuật. Theo đó, chính sách của Nhà nước về phát triển mỹ thuật là bảo tồn và phát huy những giá trị của mỹ thuật truyền thống; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động mỹ thuật theo quy định của pháp luật; hỗ trợ, đặt hàng, sáng tác các tác phẩm mỹ thuật có giá trị nghệ thuật cao, tác động tốt đến đời sống xã hội; đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới bảo tàng mỹ thuật, nhà triển lãm mỹ thuật ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...

Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về mỹ thuật trong phạm vi cả nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về mỹ thuật.

Nghị định cũng nghiêm cấm các hành vi trong hoạt động mỹ thuật như: Tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô,  đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, phá hoại thuần phong mỹ tục và hủy hoại môi trường; xuyên tạc sự thật lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá; xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; sao chép, trưng bày, mua, bán, chuyển nhượng tác phẩm mỹ thuật vi phạm quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Triển lãm mỹ thuật

Nghị định quy định, địa điểm tổ chức triển lãm phải có diện tích, trang thiết bị đáp ứng với quy mô của triển lãm; đảm bảo các điều kiện về trật tự an toàn xã hội, văn minh công cộng, vệ sinh môi trường và phòng, chống cháy nổ.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép đối với các cuộc triển lãm mỹ thuật có quy mô toàn quốc, khu vực do các cơ quan Trung ương tổ chức; Triển lãm mỹ thuật Việt Nam do tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài tổ chức; Triển lãm mỹ thuật nước ngoài tại Việt Nam do tổ chức Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài tại Việt Nam tổ chức...

UBND cấp tỉnh cấp giấy phép đối với các cuộc Triển lãm mỹ thuật tại địa phương do cơ quan, tổ chức thuộc địa phương, cá nhân, nhóm cá nhân người Việt Nam hoặc người nước ngoài tổ chức...

Trong hồ sơ đề nghị cấp phép triển lãm phải có cả danh sách tác giả, tác phẩm, chất liệu, kích thước tác phẩm, năm sáng tác. Trong đó, mỗi tác phẩm một ảnh màu kích thước 10x15 cm. Riêng đối với triển lãm nghệ thuật sắp đặt phải có ảnh chính diện, bên phải và bên trái tác phẩm, kèm theo văn bản trình bày ý tưởng nội dung tác phẩm.

Hoạt động trưng bày, mua bán, sao chép tác phẩm mỹ thuật phải đăng ký

Tổ chức, cá nhân trưng bày, mua bán, sao chép tác phẩm mỹ thuật phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và các quy định tại Nghị định này.

Việc sao chép tác phẩm mỹ thuật thực hiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Riêng việc sao chép tác phẩm mỹ thuật về danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, lãnh tụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc đặt ở nơi công cộng phải được Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép và phải bảo đảm sự tôn kính.

Về đấu giá tác phẩm mỹ thuật, Nghị định nêu rõ, tác phẩm mỹ thuật trước khi đấu giá ở trong nước hoặc đưa ra đấu giá ở nước ngoài phải được giám định.

Việc giám định tác phẩm mỹ thuật thực hiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tổ chức, cá nhân đề nghị giám định phải trả phí giám định theo hợp đồng.

Theo chinhphu.vn

Ban hành bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với xe ô tô, xe máy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

T3, 10/08/2013 - 09:53

Ngày 20/9/2013, UBND tỉnh có Quyết định số 16/2013/QĐ-UBND về việc Ban hành bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với xe ô tô, xe máy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

Quyết định nêu rõ:

1. Giá trị tài sản mới (100%) được xác định theo bảng giá ô tô, xe máy mới (có bảng giá phụ lục số I, II, III kèm theo Quyết định này).

2. Đối với tài sản đã qua sử dụng thì giá tính lệ phí trước bạ là giá trị tài sản mới (100%) nhân (x) tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của tài sản trước bạ.

a. Kê khai lệ phí trước bạ lần đầu tại Việt Nam:

+ Tài sản mới 100%

+ Tài sản đã qua sử dụng nhập khẩu vào Việt Nam: 90% (Tài sản phải đáp ứng đủ điều kiện tài sản cũ đã qua sử dụng theo quy định của Pháp luật).

b. Kê khai lệ phí trước bạ tại Việt Nam từ lần thứ 2 trở đi (Tài sản đã được kê khai, nộp lệ phí trước bạ tại Việt Nam thực hiện chuyển nhượng và kê khai lệ phí trước bạ tiếp theo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền). Tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của tài sản trước bạ được quy định cụ thể như sau:

+ Thời gian đã sử dụng từ 01 năm trở xuống: 90%

+ Thời gian đã sử dụng trên 01 năm đến 03 năm: 70 %

+ Thời gian đã sử dụng từ trên 03 năm đến 06 năm: 50%

+ Thời gian đã sử dụng trên 06 năm đến 10 năm: 30%

+ Thời gian đã sử dụng trên 10 năm: 20%

c. Thời gian đã sử dụng của tài sản được xác định như sau:

Đối với tài sản được sản xuất tại Việt Nam, thời gian đã sử dụng tính từ thời điểm (năm) sản xuất tài sản đó đến năm kê khai lệ phí trước bạ.

Đối với tài sản mới (100%) nhập khẩu, thời gian đã sử dụng tính từ thời điểm (năm) nhập khẩu tài sản đó đến năm kê khai lệ phí trước bạ. Trường hợp không xác định được thời điểm nhập khẩu thì tính theo thời điểm (năm) sản xuất ra tài sản đó.

Đối với tài sản đã qua sử dụng nhập khẩu kê khai lệ phí trước bạ tại Việt Nam từ lần thứ 2 trở đi, thời gian đã sử dụng tính từ thời điểm (năm) sản xuất tài sản đó đến năm kê khai lệ phí trước bạ và giá trị tài sản làm căn cứ xác định giá tính lệ phí trước bạ là giá của loại tài sản làm căn cứ xác định giá tính lệ phí trước bạ và giá trị tài sản làm căn cứ xác định giá tính lệ phí trước bạ là giá của tài sản tương ứng do UBND tỉnh quy định mới 100%.

Trường hợp không xác định được thời điểm (năm) sản xuất tài sản đó thì thời gian sử dụng tính từ thời điểm (năm) nhập khẩu tài sản đó và giá trị tài sản làm căn cứ xác định giá tính lệ phí trước bạ là giá của loại tài sản tương ứng đã qua sử dụng (90%).

3. Trường hợp giá chuyển nhượng, mua bán thực tế, xe ô tô, xe máy ghi trên hóa đơn hợp pháp cap hơn giá trị quy định tại Quyết định này, thì giá tính lệ phí trước bạ tính giá trị trên hóa đơn.

4. Các tài sản thuộc đối tượng nộp lệ phí trước bạ chưa quy định cụ thể tại Quyết định này thì việc tính lệ phí trước bạ thực hiện như sau: Cục Thuế tỉnh trong quá trình thực hiện phát hiện các tài sản đăg ký nộp lệ phí trước bạ nhưng chưa được quy định trong bảng giá tính lệ phí trước bạ của địa phương hoặc giá quy định trong bảng giá chưa phù hợp với quy định thì có ý kiến đề xuất gửi Sở Tài chính để báo cáo UBND tỉnh xem xét ban hành bảng giá để bổ sung, sửa đổi bẳng giá tính lệ phí trước bạ cho phù hợp.

Quyết định này gồm 3 điều, có hiệu lực từ 1/10/2013.

K.C

Cán bộ y tế phải liên tục tham gia các khóa đào tạo

T3, 10/08/2013 - 09:44

Cán bộ y tế làm việc trong các cơ sở y tế phải có nghĩa vụ tham gia các khóa đào tạo liên tục nhằm đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhiệm.

Đây là quy định Bộ Y tế nêu tại Thông tư 22/2013/TT-BYT hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế.

Theo Bộ Y tế, việc thực hiện nghĩa vụ đào tạo liên tục là một trong những tiêu chí để thủ trưởng đơn vị đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và quá trình phát triển nghề nghiệp của cán bộ y tế. Người đứng đầu cơ sở y tế có trách nhiệm tạo điều kiện để cán bộ y tế được tham gia các khóa đào tạo liên tục.

Kinh phí cho đào tạo liên tục được lấy từ đóng góp của người học; ngân sách Nhà nước và nguồn thu hợp pháp khác.

Theo Thông tư, cán bộ y tế là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh không thực hiện đủ nghĩa vụ đào tạo trong 2 năm liên tiếp theo qui định còn bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo qui định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng nêu rõ, cán bộ y tế đang tham gia các khóa đào tạo dài hạn trong và ngoài nước liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhận không phải thực hiện nghĩa vụ đào tạo liên tục.

Thời gian đào tạo liên tục

Theo Thông tư, cán bộ y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp.

Cán bộ y tế không thuộc trường hợp trên có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp, trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học.

Thông tư nêu rõ, cán bộ y tế tham gia các hình thức đào tạo liên tục khác nhau được cộng dồn để tính thời gian đào tạo liên tục.

Việc xác nhận đã tham gia đào tạo liên tục, theo Thông tư, được thực hiện bằng một trong hai hình thức sau: 1- Chứng chỉ đào tạo liên tục được cơ sở đào tạo liên tục cấp cho học viên đáp ứng được các yêu cầu của khóa học, tại những cơ sở đào tạo liên tục được Bộ Y tế công nhận. 2- Giấy chứng nhận đã tham gia đào tạo liên tục theo các hình thức qui định.

Bên cạnh đó, Bộ Y tế, Sở Y tế xem xét công nhận giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ đào tạo liên tục do cơ sở nước ngoài cấp cho các cán bộ y tế thuộc quyền quản lý trên cơ sở quy định.

Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục; phát triển nghề nghiệp liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.

Cơ sở đào tạo liên tục là các bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế.

 

 

 Theo chinhphu.vn

Hỗ trợ học nghề đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

T2, 10/07/2013 - 18:32

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.


Ảnh minh họa

Cụ thể, đối với người tham gia các khoá học nghề đến 3 tháng, mức hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học; mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, tùy theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế.

Đối với người tham gia các khoá học nghề trên 3 tháng, mức hỗ trợ tối đa 600.000 đồng/người/tháng; mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, tùy theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế.

Đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia học nghề có mức chi phí học nghề cao hơn mức hỗ trợ học nghề theo quy định nêu trên thì phần vượt quá mức hỗ trợ học nghề do người lao động tự chi trả.

Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo nghề của từng nghề và nhu cầu của từng người lao động, nhưng không quá 6 tháng.

Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia học nghề được hỗ trợ kinh phí để học một nghề và một lần, thực hiện thông qua cơ sở dạy nghề; không hỗ trợ bằng tiền trực tiếp cho người lao động để tự học nghề.

Nguồn kinh phí thực hiện hỗ trợ học nghề do Bảo hiểm xã hội Việt Nam chi trả từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12/2013.

Theo Chinhphu.vn

Trường hợp được hưởng trợ cấp thất nghiệp một lần

T2, 10/07/2013 - 18:19

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN đã được sửa đổi, bổ sung thì người thất nghiệp là người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc được hưởng BHTN khi có đủ các điều kiện sau:

- Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật

- Đã đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung thì người đang đóng BHTN là người có tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng BHTN, tháng liền kề bao gồm cả thời gian sau:

- Người lao động có các tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương, tiền công tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH.

- Người lao động có các tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị.

Như vậy, nếu đáp ứng đủ điều kiện hưởng theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP và là người đang đóng BHTN theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH thì được hưởng BHTN.

Trường hợp người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng mà có việc làm thì làm đề nghị hưởng trợ cấp một lần nộp kèm hợp đồng lao động đã ký với công ty mới (từ ngày 1/9/2013) cho Trung tâm Giới thiệu việc làm. Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm có trách nhiệm xác định mức hưởng trợ cấp một lần và trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ký quyết định. Tổng số tiền hưởng trợ cấp một lần bằng tổng số thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp còn lại chưa hưởng.

TH-ND

 

Tăng cường giáo dục pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai

T2, 10/07/2013 - 08:38

 

Ngày 30/9, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường đã ký Quyết định số 2423/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; nâng cao chất lượng công tác hoà giải ở cơ sở trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai.

 

Ảnh minh họa

Ngày 07/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 312/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai. Thực hiện Quyết định này, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với một số cơ quan, đơn vị ban hành Kế hoạch tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; nâng cao chất lượng công tác hoà giải ở cơ sở trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai.

Theo đó, mục đích của việc ban hành Kế hoạch nhằm tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; nâng cao chất lượng công tác hòa giải cơ sở trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai. Đồng thời, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành của cán bộ, công chức, người dân về lĩnh vực pháp luật đất đai, hạn chế các vụ việc khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai, đặc biệt là các vụ việc khiếu kiện đông người, kéo dài, vượt cấp.

Về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hoà giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp tập trung vào các nội dung như hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương phổ biến, giáo dục pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai; lồng ghép hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp đất đai trong xây dựng, thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm (đặc biệt sau khi Luật Đất đai sửa đổi được thông qua). Đồng thời, tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, phổ biến về pháp luật đất đai, pháp luật về khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện Bản tin pháp luật, tiểu phẩm pháp luật về đất đai, khiếu nại, tố cáo, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Về công tác trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp sẽ chỉ đạo, hướng dẫn Trung tâm trợ giúp pháp lý các tỉnh, thành phố đẩy mạnh thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực pháp luật khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính về đất đai; hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác trợ giúp pháp lý về các nội dung này. Đặc biệt, tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chú trọng trợ giúp pháp lý lưu động tại các địa bàn dân cư là “điểm nóng” trong việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực pháp luật khiếu nại, tố cáo; kịp thời phát hiện và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực pháp luật khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính về đất đai.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao cho Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật và Cục Trợ giúp pháp lý chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện các nhiệm vụ nêu trên; giao Thanh tra Bộ Tư pháp làm đầu mối tổng hợp, theo dõi, việc thực hiện Kế hoạch này./.

Theo ĐCSVN

 

Tính thuế TNCN khi trả tiền hoa hồng môi giới

T6, 10/04/2013 - 22:48

Theo Công văn số 8817/BTC-TCT ngày 8/7/2013 của Bộ Tài chính về việc triển khai thực hiện các quy định có hiệu lực từ 1/7/2013 tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN, thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, thực hiện khấu trừ theo tỷ lệ thống nhất 10% đối với thu nhập từ 2 triệu đồng trở lên/lần trả thu nhập (không phân biệt cá nhân có hay chưa có mã số thuế).

Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Theo các quy định trên, kể từ ngày 1/7/2013, mỗi lần chi trả tiền hoa hồng môi giới cá nhân cư trú không ký hợp đồng từ 2 triệu đồng trở lên thì Công ty thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ thống nhất là 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp mỗi lần thanh toán tiền hoa hồng môi giới cho cá nhân dưới 2 triệu đồng thì không phải khấu trừ thuế TNCN 10% theo quy định trên.

PV

 

Quy định về tiền lương và thời gian làm thêm giờ

T6, 10/04/2013 - 22:34

Tiền lương làm thêm giờ

Trước ngày 1/5/2013, theo quy định tại Điều 61 Bộ Luật Lao động (BLLĐ) năm 1994, người lao động làm thêm giờ được trả lương như sau: Vào ngày thường, được trả lương ít nhất bằng 150% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường; Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, được trả lương ít nhất bằng 200% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường.

Nếu làm thêm giờ vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ tùy theo vùng khí hậu), thì còn được trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lương làm việc vào ban ngày.

Kể từ ngày 1/5/2013, tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được quy định tại Điều 97 BLLĐ năm 2012 như sau:

Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Như vậy, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm theo quy định mới, được trả cao hơn (20%) so với quy định trước đây.

Số giờ làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường

Trước ngày 1/5/2012, theo quy định tại Điều 70 BLLĐ năm 1994 và kể từ ngày 1/5/2012, theo quy định tại Điều 105 BLLĐ năm 2012, thời giờ làm việc ban đêm đều được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau (bằng 8 giờ). Theo đó, người lao động làm thêm giờ trong khung giờ từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau thì được gọi là làm thêm giờ vào ban đêm.

Điều 69 BLLĐ năm 1994 quy định người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận làm thêm giờ, nhưng không được quá 4 giờ trong 1 ngày. Hiện nay theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 106 BLLĐ năm 2012, người sử dụng lao động phải bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày.

Việc tính trả lương đối với người lao động làm việc thêm giờ vào ban đêm phải thực hiện đúng quy định tại Điều 105 BLLĐ năm 2012. Không được lấy lý do tiền lương làm việc thêm giờ ban đêm theo quy định hiện hành được tăng thêm 20% so với quy định trước đây để tăng thời giờ làm thêm giờ vào ban đêm.

TH-ND

 

Quy định phân cấp công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

T6, 10/04/2013 - 09:43

Ngày 1/10/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định số 18/2013/QĐ-UBND về việc Ban hành Quy định phân cấp công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

Quy định này đã quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Ủy ban nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (sau đây gọi chung là cấp huyện), Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), các sở, ngành, đơn vị có liên quan trong công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng, về tổ chức tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc và tổ chức tôn giáo được thực hiện theo Quy định này và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước có liên quan.

Nguyên tắc phân cấp và giải quyết công việc trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp tình hình thực tiễn của địa phương; xác định rõ thẩm quyền giải quyết từng nội dung công việc, tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; giải quyết các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo phải đảm bảo đúng thời hạn pháp luật quy định; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân; công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống chính trị của địa phương. Cấp nào, ngành nào quyết định giải quyết các vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo thì cấp đó, ngành đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về quyết định của mình.

TH-ND   

 

 

Siết chặt hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu qua biên giới đất liền

T5, 10/03/2013 - 09:35

 

Để tăng cường quản lý, chống gian lận thương mại qua hoàn thuế GTGT, Bộ Tài chính vừa có công văn yêu cầu Cục Thuế và Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác quản lý thuế, hải quan liên quan đến hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất khẩu qua biên giới đất liền.

Trong đó, Bộ Tài chính yêu cầu các đơn vị tăng cường quản lý việc hoàn thuế GTGT cho các tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu hàng hóa qua biên giới đất liền thuộc 1 trong 3 trường hợp:

1- Mới thành lập trong thời gian 24 tháng trở lại tính đến ngày cơ quan thuế nhận được hồ sơ đề nghị hoàn thuế của người nộp thuế, không trực tiếp sản xuất hàng hóa xuất khẩu, có quy mô kinh doanh hợp lý và không có cơ sở vật chất hoặc cơ sở vật chất không tương ứng với sản phẩm hàng hóa xuất khẩu.

2- Việc nhận thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu từ tài khoản vãng lai của người mua nước ngoài mở tại ngân hàng thương mại Việt Nam và hàng xuất khẩu thuộc loại có rủi ro.

3- Thuộc danh sách doanh nghiệp được phân loại rủi ro cao về thuế hải quan.

Đối với các hàng hóa xuất khẩu thuộc 3 trường hợp nêu trên, cơ quan Hải quan phải kiểm tra thực tế (100%), cán bộ kiểm tra ghi cụ thể, đầy đủ kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa và phương tiện vận chuyển hàng hóa xuất khẩu đồng thời thực hiện xác nhận thực xuất trên tờ khai xuất khẩu.

Trong công văn, Bộ Tài chính nhấn mạnh, nếu khách nhập cảnh mang tiền vượt mức quy định của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan Hải quan phải yêu cầu người nhập cảnh kê khai rõ số tiền đó là tiền thanh toán cho hợp đồng mua bán hàng hóa và tờ khai xuất khẩu hàng hóa nào. Người nhập cảnh phải xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa, tờ khai xuất khẩu để cán bộ Hải quan kiểm tra, đối chiếu.

Trường hợp người nhập cảnh không phải đại diện hợp pháp cho tổ chức cá nhân nước ngoài đã ký hợp đồng mua bán hàng hóa với tổ chức, cá nhân Việt Nam thì phải có giấy ủy quyền.

Theo Chinhphu.vn

 

Trường hợp hưởng hai chế độ mất sức lao động và thương tật

T4, 10/02/2013 - 17:02

Theo quy định tại Ðiều 23, Thông tư số 05/2013/TT-BLÐTBXH ngày 15-5-2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thương binh đồng thời là người hưởng chế độ mất sức lao động được hưởng đồng thời cả hai chế độ nếu hồ sơ hưởng chế độ mất sức lao động có một trong các giấy tờ sau:

- Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ mất sức lao động có xác nhận thời gian công tác thực tế từ 20 năm trở lên hoặc chưa đủ 20 năm công tác thực tế nhưng có đủ 15 năm công tác liên tục trong quân đội, công an.

- Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ mất sức lao động theo Nghị quyết 16-HÐBT ngày 8-2-1982 của Hội đồng Bộ trưởng.

- Biên bản giám định tách riêng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật.

- Biên bản giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ mất sức lao động đã khám tổng hợp tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật và bệnh tật, trong đó tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật từ 61% trở lên.

TH-ND

 

Những đối tượng được miễn học phí

T4, 10/02/2013 - 16:43

Theo Ðiều 4 Nghị định 49/2010/NÐ-CP và Ðiều 1 Nghị định 74/2013/NÐ-CP, các đối tượng được miễn học phí gồm: Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29-6-2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16-7-2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng.

Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Ðiều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. Trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng.

Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân; Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ ba tháng trở lên); Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học; Học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Cũng theo Khoản 5, Ðiều 1 Nghị định 74, từ ngày 1-9-2013 bổ sung thêm các đối tượng sau được miễn học phí, gồm: Sinh viên học chuyên ngành Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; Học sinh, sinh viên, học viên các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp y và Giải phẫu bệnh; Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

TH-ND 

Nguyên tắc tính thuế, khai thuế, nộp thuế

T4, 10/02/2013 - 16:39

Theo Nghị định số 83 ngày 22-7-2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, thì nguyên tắc tính thuế, khai thuế, nộp thuế gồm: Người nộp thuế có trách nhiệm tính, xác định số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước do mình kê khai, trừ trường hợp cơ quan quản lý thuế ấn định thuế hoặc tính thuế theo quy định tại các Ðiều 37, 38 và 39 Luật Quản lý thuế. Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.

Trường hợp sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót thì được khai bổ sung, điều chỉnh hồ sơ khai thuế. Hồ sơ khai thuế bổ sung, điều chỉnh được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế.

Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế sau kiểm tra, thanh tra; nếu người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp và được kiểm tra, thanh tra  còn sai sót thì người nộp thuế được tự khai bổ sung, điều chỉnh; việc xử lý căn cứ chế độ quy định và nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc khai sót, chưa đúng phải điều chỉnh. Trường hợp người nộp thuế tự tính thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế đã tính và khai với cơ quan quản lý thuế theo thời hạn nộp hồ sơ khai thuế quy định tại các Ðiều 32, 33 của Luật Quản lý thuế và các Khoản 9, 10 Ðiều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.

Trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo nộp thuế hoặc quyết định thu thuế của cơ quan quản lý thuế. Trường hợp người nộp thuế tạm ngừng hoạt động kinh doanh có văn bản đề nghị gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp thì không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh.

Trường hợp người nộp thuế tiếp tục hoạt động kinh doanh trước khi hết thời hạn tạm ngừng hoạt động kinh doanh thì phải có văn bản thông báo gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp biết, đồng thời thực hiện nộp hồ sơ khai thuế theo quy định. Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế được thực hiện theo nguyên tắc giao dịch độc lập phản ánh giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết, trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam, quy định tại các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế mà Việt Nam đã ký và phù hợp với thông lệ quốc tế...

TH-ND

Công nhận tạm thời kho, bãi phục vụ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Khu kinh tế cửa khẩu Trà Lĩnh

T2, 09/30/2013 - 18:04

 

Ngày 25/9/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ra Quyết định số 1508/QĐ-UBND về việc công nhận tạm thời kho, bãi phục vụ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Khu kinh tế cửa khẩu Trà Lĩnh, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng.

Theo đó, tỉnh công nhận tạm thời kho, bãi của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Du Trọng Đại, địa chỉ: Khu II thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 4800594952 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng cấp ngày 23 tháng 4 năm 2013 được hoạt động phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại Khu kinh tế cửa khẩu Trà Lĩnh, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Công ty có trách nhiệm chấp hành đúng quy định hiện hành về hoạt động kinh doanh kho, bãi và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo theo quy định tại Quyết định số 2145/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng; chấp hành đúng các quy định về di dời giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất; khẩn trương đầu tư, xây dựng hoàn thiện kho, bãi đã được cấp phép theo đúng quy hoạch để thay thế.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 25/9/2013.

TH-ND

 

Hướng dẫn thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến chính sách, pháp luật về nhà ở, đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

T2, 09/30/2013 - 08:54

Vừa qua, ngày 23/9/2013, Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng đã có Công văn số 460/STP-BTTP gửi Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh về việc hướng dẫn thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến chính sách, pháp luật về nhà ở, đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam.

Theo đó, để triển khai thực hiện thống nhất, theo quy định của pháp luật về chính sách sở hữu nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam, Sở Tư pháp đề nghị các đơn vị hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng khi tiến hành các thủ tục công chứng các giao dịch, hợp đồng về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cho kiều bào cần thực hiện đúng quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:

Về thủ tục công chứng, chứng thực các giao dịch về nhà ở: Khi thực hiện công chứng, chứng thực các giao dịch về nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì không yêu cầu phải có hộ khẩu thường trú và chứng minh thư nhân dân mà chỉ cần có hộ chiếu Việt Nam hoặc hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam hoặc giấy xác nhận gốc Việt Nam đúng quy định tại Điều 66, Điều 67 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP. Đối với địa bàn thành phố Cao Bằng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng và đối với địa bàn còn lại của tỉnh chưa có các tổ chức hành nghề công chứng thì thực hiện chứng thực tại UBND xã, phường, thị trấn.

Về xác định điều kiện cư trú để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với nhà ở: Khi làm thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng và khi cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thì không bắt buộc người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đáp ứng điều kiện cư trú thực tế tại Việt Nam từ 3 tháng (90 ngày theo quy định tại Điều 151 của Bộ Luật dân sự) trở lên mà chủ cần có giấy tờ của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên là đủ điều kiện được mua và sở hữu nhà ở theo đúng quy định tại Khoản 1, Điều 19 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD của Bộ Xây dựng.

Sở Tư pháp yêu cầu các đơn vị, tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh nghiêm túc thực hiện theo đúng quy định nêu trên.

K.T

Từ 1/10, miễn thuế nhiều khoản thu nhập cá nhân

CN, 09/29/2013 - 20:04

Ngày 27/9/2013, Tổng cục Thuế tổ chức Hội nghị giới thiệu một số nội dung mới của Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Theo đó, từ ngày 1/10 tới, sẽ chính thức miễn thuế cho hàng loạt khoản thu nhập cá nhân ngoài việc tăng mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế từ 4 triệu đồng lên 9 triệu đồng/tháng, chuyển từ việc kê khai thuế theo tháng sang kê khai thuế theo quý.
 
 
        
Ngoài việc nâng mức giảm trừ gia cảnh cho chính người nộp thuế và người phụ thuộc, từ 4 triệu đồng lên 9 triệu đồng/tháng, và từ 1,6 triệu đồng lên 3,6 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc có hiệu lực từ 1/10 tới, Luật sửa đối, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), cũng có nhiều nội dung mới, có lợi cho người nộp thuế.

Theo đó, sẽ bổ sung thêm các các khoản thu nhập được miễn thuế như bổ sung các trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng bất động sản là công trình xây dựng trong tương lai và nhà ở hình thành trong tương lai giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, cha mẹ nuôi với con nuôi, cha mẹ chồng với con dâu, bố mẹ vợ với con rể, ông bà nội ngoại với các cháu nội, ngoại, anh chị em ruột với nhau.

Cùng với đó, bổ sung tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ quỹ hưu trí tự nguyện được miến thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Ngoài ra, bổ sung khoản học bổng nhận được từ tổ chức trong và ngoài nước bao gồm cả tiền sinh hoạt phí cũng được miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Tổng cục Thuế cho biết, trước đây các khoản này điều bị tính vào thu nhập chịu thuế. Bởi vậy, với việc thay đổi này, người nộp thuế hoàn toàn có lợi hơn nhiều so với quy định cũ.

Theo Tổng cục Thuế, chính sách thuế TNCN sửa đổi, quy định bổ sung các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động bao gồm: trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ; các khoản trợ cấp đối với lực lượng vũ trang; phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản; trơ cấp chuyển vùng 1 lần đối với người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Đặc biệt điều gây nhiều tranh cãi là đối với khoản tiền phí tích lũy mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền tích lũy đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện, do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động đối với những sản phẩm bảo hiểm có tích lũy về phí bảo hiểm cũng chỉ tính vào thu nhập chịu thuế của nghười lao động khi doanh nghiệp bảo hiểm.

Công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện trả tiền bảo hiểm, thay cho quy định người sử dụng lao động tính vào thu nhập chịu thế của người lao động khi mua bảo hiểm hoặc đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện trước đây. Trường hợp người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, mua bảo hiểm không bắt buộc khác, đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện cho người lao động, mà những sản phẩm bảo hiểm đó không có tích lũy về phí bảo hiểm, không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.

Ngoài ra các khoản hỗ trợ của tổ chức trả thu nhập cho việc khám chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động thu nhập từ học bổng không những được miễn thuế mà cả tiền sinh hoạt phí theo chương trình hỗ trợ khuyến học cũng được miễn thuế.

Theo Tổng cục Thuế, hiện có khoảng hơn 20 triệu người trong diện người phụ thuộc của Luật thuế TNCN. Ngành Thuế đang tiến hành cấp mã số thuế cho những người này, dự kiến đến giữa năm 2014 sẽ hoàn tất.

Điểm đáng quan tâm nhất của Luật Thuế TNCN sửa đổi, đối với cá nhân nộp thuế chỉ cần kê khai thuế theo quý, tức là mỗi năm chỉ có 4 lần, thay cho 12 lần trước đây. Riêng với tổ chức chi trả, trước đây mỗi món chứng từ có giá trị từ 5 triệu đồng là đã bị kê khai thuế, nay được nâng lên gấp 10 lần, tức là 50 triệu đồng mới phải kê khai.

Như vậy, cùng với việc loại một số khoản thu nhập khỏi danh sách chịu thuế, các thủ tục hành chính đối với thuế TNCN cũng được giảm thiểu rất nhiều, nên chi phí về thời gian cũng như tài chính cho cá nhân đã giảm được khoảng 30% so với cũ. Về kê khai thuế, tần suất khai thuế TNCN đối với cá nhân và tổ chức chi trả thu nhập được giảm hẳn xuống./.

Theo vov.vn

 

Xử phạt vi phạm hành chính về năng lượng nguyên tử

CN, 09/29/2013 - 11:53

Theo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử vừa được Chính phủ ban hành, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 1 tỷ đồng, đối với tổ chức là 2 tỷ đồng.

Phạt đến 8 triệu đồng nếu không trang bị dụng cụ bảo hộ thích hợp

Nghị định nêu rõ, phạt tiền từ 2-5 triệu đồng đối với cá nhân có một trong các hành vi: Không có biển báo bức xạ, dấu hiệu cảnh báo bức xạ tại khu vực kiểm soát, khu vực giám sát; không có nội quy ra vào khu vực kiểm soát, khu vực giám sát; không bố trí người giám sát việc ra vào khu vực kiểm soát.

Mức phạt trên cũng áp dụng đối với một trong các hành vi: Không trang bị dụng cụ bảo hộ thích hợp cho người làm việc với nguồn phóng xạ hở; không trang bị dụng cụ bảo hộ thích hợp cho người sử dụng thiết bị X-quang để chụp, soi chiếu, chẩn đoán.

Đối với một trong các hành vi: Không trang bị dụng cụ bảo hộ thích hợp cho người vận hành thiết bị X-quang can thiệp, người tham gia thực hiện các thủ thuật X-quang can thiệp; không trang bị kẹp gắp nguồn phóng xạ, găng tay chì cho người làm việc với nguồn phóng xạ trong thăm dò địa vật lý giếng khoan thì sẽ bị phạt tiền từ 4-8 triệu đồng.

Phạt nặng hành vi nhập khẩu chất thải phóng xạ

Phạt tiền từ 4-8 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Nhập khẩu, buôn bán hàng hoá tiêu dùng đã chiếu xạ hoặc chứa chất phóng xạ được cho phép nhưng không ghi rõ thông tin này trên nhãn hàng hoá; nhập khẩu vật liệu phóng xạ, thiết bị bức xạ không đúng các tham số kỹ thuật, không đúng số lượng, đặc tính, xuất xứ ghi trong giấy phép.

Đối với một trong các hành vi: Nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng đã chiếu xạ không có trong danh mục được phép nhập khẩu hoặc có trong danh mục được phép nhập khẩu nhưng đã chiếu xạ hoặc chứa chất phóng xạ quá mức quy định; sản xuất, buôn bán hàng hoá tiêu dùng có hoạt độ phóng xạ cao hơn mức quy định thì sẽ bị phạt tiền từ 8-15 triệu đồng

Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với hành vi nhập khẩu thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ không thuộc danh mục hàng hoá được phép nhập khẩu.

Đối với hành vi nhập khẩu chất thải phóng xạ thì sẽ bị phạt tiền từ 150-300 triệu đồng.

Đặc biệt, mức phạt tiền tối đa từ 500 triệu-1 tỷ đồng được áp dụng đối với 2 hành vi: Để xảy ra sự cố hạt nhân trong trường hợp hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; và Chiếm đoạt, phá hoại, chuyển giao, sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân.

Các mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền đối với cùng một hành vi VPHC của tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2013.

Theo Chinhphu.vn

Chế độ đối với người tham gia quân ngũ sau 1975

CN, 09/29/2013 - 11:48

Quân nhân nhập ngũ sau ngày 30/4/1975, trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp nước bạn Lào sau ngày 30/4/1975, hiện không hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao động, bệnh binh hàng tháng đều được áp dụng chế độ, chính sách tại Nghị định số 23/2012/NĐ-CP.

Theo quy định tại Nghị định số 23/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ và Thông tư liên tịch ngày 19/10/2002 của Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính thì quân nhân nhập ngũ sau ngày 30/4/1975, trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 (không phân biệt dài hay ngắn) hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ bệnh binh hàng tháng đều thuộc đối tượng áp dụng chế độ, chính sách tại Nghị định số 23/2012/NĐ-CP.
 
Ảnh minh họa

Hồ sơ, thủ tục xét hưởng chế độ thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 102/2012/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC của Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính.

TH-ND

Cơ chế quản lý tài chính và biên chế Kho bạc Nhà nước

CN, 09/29/2013 - 11:42

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành cơ chế quản lý tài chính và biên chế của Kho bạc Nhà nước.

 
        
Ảnh minh họa     

Theo đó, về biên chế và lao động của hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) từ năm 2014 ổn định theo chỉ tiêu biên chế và lao động đã được cấp thẩm quyền giao đến ngày 31/5/2013. Kho bạc Nhà nước từng bước tổ chức định biên trên cơ sở xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp Thủ tướng Chính phủ giao thêm nhiệm vụ mới hoặc Nhà nước có quyết định chia tách địa giới hành chính, phải thành lập bổ sung KBNN cấp tỉnh, cấp huyện, Bộ Tài chính thống nhất với Bộ Nội vụ báo cáo Thủ tướng Chính phủ bổ sung biên chế cho KBNN.

Ngoài số biên chế và lao động được giao, KBNN được ký hợp đồng thuê khoán công việc và hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.

Nguồn kinh phí hoạt động hằng năm của KBNN gồm nguồn ngân sách Nhà nước cấp bảo đảm chi một lần tiền lương, tiền công, phụ cấp lương và các khoản đóng góp theo chế độ Nhà nước quy định trên cơ sở chỉ tiêu biên chế và lao động hợp đồng theo quy định của pháp luật được Bộ trưởng Bộ Tài chính giao; các nguồn kinh phí khác được ngân sách Nhà nước giao theo quy định của pháp luật (như kinh phí thực hiện nhiệm vụ phát hành, thanh toán công trái, trái phiếu, tín phiếu...); toàn bộ nguồn thu từ hoạt động nghiệp vụ của KBNN theo quy định của Nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Chi tiền lương bình quân không quá 1,8 lần

Theo Quyết định, các nội dung chi thực hiện theo chế độ, tiêu chuẩn định mức đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành. Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt, ban hành định mức chi nghiệp vụ KBNN trên cơ sở vận dụng các tiêu chuẩn, mức chi quy định hiện hành, phù hợp tình hình cụ thể và khả năng nguồn kinh phí.

Mức chi tiền lương, tiền công đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động bình quân toàn hệ thống KBNN áp dụng không vượt quá 1,8 lần và chi bổ sung thu nhập từ kinh phí tăng thu tiết kiệm chi không vượt quá 0,2 lần so với mức lương đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định; tiền lương tăng thêm và bổ sung thu nhập không bao gồm phụ cấp công vụ, phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ.

Mức chi tiền lương, tiền công đối với cán bộ, công chức, viên chức của KBNN được điều chỉnh phù hợp với lộ trình cải cách chính sách tiền lương của Nhà nước và chấm dứt khi thực hiện chế độ tiền lương mới.

Việc phân phối tiền lương, tiền công theo kết quả chất lượng hoàn thành công việc của từng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo nguyên tắc công bằng, hợp lý, gắn tiền lương với hiệu quả công việc, đồng thời phải được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Theo Chinhphu.vn

Trang