Thông báo, hướng dẫn của UBND tỉnh Cao Bằng

Đăng kí nhận Nguồn tin Thông báo, hướng dẫn của UBND tỉnh Cao Bằng
Đã cập nhật: cách đây 1 hour 32 min

Quy định về xếp hàng hóa trên xe ô tô khi tham gia giao thông

T7, 10/26/2013 - 21:15

Bộ Giao thông vận tải vừa ban hành Thông tư quy định về việc xếp hàng hóa trên xe ô tô khi tham gia giao thông trên đường bộ áp dụng đối với người vận tải hàng hóa, người lái xe, người áp tải, người thuê vận tải, người xếp hàng hóa trên xe ô tô và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

 
 
       Hình minh họa xếp và cố định hàng ống trụ.    

Thông tư quy định người vận tải phải lựa chọn phương tiện phù hợp với loại hàng hóa cần vận chuyển.

Cụ thể, khi vận chuyển hàng rời phải sử dụng xe ô tô tải có thùng hoặc container. Trường hợp chở hàng rời trên xe tải không có thùng kín, người vận tải phải sử dụng thiết bị, dụng cụ để che kín hàng hóa, đảm bảo hàng hóa không bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển.

Đối với hàng bao kiện, các kiện hàng nặng có bao gói cứng, ổn định được đặt ở phía dưới. Các kiện hàng có kích thước giống nhau sắp xếp cùng nhau. Các kiện hàng có xu hướng nghiêng một góc nhỏ xếp vào giữa đống hàng. Trường hợp giữa các kiện hàng có khoảng cách, phải dùng các thiết bị, dụng cụ chèn để chống va chạm, xê dịch trong quá trình vận chuyển. Trường hợp sau khi xếp hàng xong mà vẫn có khoảng trống trong thùng xe thì phải gia cố để cố định hàng hóa.

Với hàng hóa hình trụ ống, hàng phải được xếp nằm ngang hoặc nằm dọc theo chiều dài xe tùy thuộc vào chiều dài của hàng so với thùng xe. Khi đặt nằm ngang cần đặt vuông góc với chiều dài xe. Khi chiều cao của ống trụ nhỏ hơn đường kính, ống trụ cần được đặt thẳng đứng. Các loại hàng trụ ống cần được chằng buộc vào thành xe hoặc sử dụng giá kê, giá đỡ, chèn lót để cố định tránh dịch chuyển hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Trường hợp hàng trụ ống có bề mặt trơn nhẵn, khi xếp chồng lên nhau phải sử dụng vật liệu đệm lót giữa các lớp hàng để chống trơn trượt.

Bộ Giao thông vận tải cũng quy định khi xếp hàng vào container, phải lựa chọn container phù hợp với loại hàng hóa và đặc tính của hàng hóa để xếp hàng; phải chèn, lót để hàng hóa trong container không bị xê dịch trong quá trình vận chuyển; khối lượng sử dụng lớn nhất của container và hàng hóa trong đó thực hiện theo quy định tại tiêu chuẩn ISO 668 về phân loại, kích thước và khối lượng danh định.

Khi vận chuyển container phải sử dụng tổ hợp xe đầu kéo với sơ mi rơ moóc hoặc xe ô tô tải vận chuyển container phù hợp với loại container. Sử dụng các thiết bị để định vị container với xe, đảm bảo container không bị xê dịch trong quá trình vận chuyển.

Tổng cục Đường bộ Việt Nam có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn triển khai thực hiện. Đồng thời, kiểm tra, thanh tra, xử lý đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định này theo thẩm quyền.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/12/2013.

Theo Chinhphu.vn

19/8 là Ngày truyền thống ngành Hóa chất Việt Nam

T7, 10/26/2013 - 21:13

 Thủ tướng Chính phủ quyết định lấy ngày 19/8/2013 là "Ngành truyền thống ngành Hóa chất Việt Nam".

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc tổ chức ngày truyền thống phải đảm bảo tiết kiệm, giáo dục truyền thống của ngành Hóa chất Việt Nam, động viên phong trào thi đua lao động sản xuất vì sự phát triển của ngành và sự phát triển của đất nước.

Được biết, ngày 19/8/1969 là ngày thành lập Tổng cục Hóa chất, nay là Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.

Công nghiệp hoá chất nước ta đã phôi thai từ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Trên 60 năm phát triển, Công nghiệp hoá chất đã có quy mô lớn, bao gồm nhiều phân ngành, thành phần kinh tế, trình độ công nghệ đã có bước thay đổi cơ bản với một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ và công nhân kỹ thuật đông đảo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao.

Theo Chinhphu.vn

Hướng dẫn giảm 50% thuế GTGT đối với nhà ở thương mại

T7, 10/26/2013 - 21:04

Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, giảm 50% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng từ ngày 1/7/2013 đến hết ngày 30/6/2014 đối với bán, cho thuê hoặc cho thuê mua nhà ở thương mại là căn hộ hoàn thiện có diện tích sàn dưới 70 m2 và có giá bán dưới 15 triệu đồng/m2.

 
        
Ảnh minh họa    

Đây là nội dung được nêu tại Thông tư 141/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 92/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều có hiệu lực từ ngày 1/7/2013 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.

Việc áp dụng giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT đối với bán, cho thuê mua nhà ở thương mại phải đáp ứng các điều kiện: Giá bán, giá cho thuê mua nhà ở thương mại phải được ghi rõ trong hợp đồng; trong đó, giá bán hoặc giá cho thuê mua nhà ở thương mại dưới 15 triệu đồng/m2 là giá bán, giá cho thuê mua đã bao gồm thuế GTGT 10% và đã bao gồm phí bảo trì công trình theo quy định...

Áp dụng thuế suất 5% đối với nhà ở xã hội

Cũng theo Thông tư 141, áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% kể từ ngày 1/7/2013 đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội.

Nhà ở xã hội quy định là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng và đáp ứng các tiêu chí về nhà ở, về giá bán nhà, về giá cho thuê, về giá cho thuê mua, về đối tượng, điều kiện được mua, được thuê, được thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở.    

Trường hợp bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, thuế suất 5% áp dụng theo hợp đồng bán, cho thuê mua nhà ở xã hội được ký từ ngày 01/7/2013 và áp dụng với số tiền thanh toán từ ngày 01/7/2013 đối với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2013.

Trường hợp cho thuê nhà ở xã hội, thuế suất 5% áp dụng căn cứ vào thời điểm thu tiền theo hợp đồng (kể cả trường hợp thu tiền trước cho nhiều kỳ) kể từ ngày 01/7/2013. Trường hợp doanh nghiệp chưa nhận được tiền thuê nhà kể từ ngày 01/7/2013 thì áp dụng theo thời điểm xuất hoá đơn.

Áp dụng thuế TNDN 10% đối với DN kinh doanh nhà ở xã hội

Thông tư nêu rõ, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, kể cả hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp có thu (gọi là doanh nghiệp) thực hiện đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% đối với phần thu nhập từ doanh thu bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội phát sinh từ ngày 01/7/2013 không phụ thuộc vào thời điểm ký hợp đồng bán, cho thuê hoặc cho thuê mua nhà ở xã hội.

Trường hợp doanh nghiệp thực hiện đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội ký hợp đồng chuyển nhượng nhà có thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ trước ngày 01/7/2013 và còn tiếp tục thu tiền kể từ ngày 01/7/2013 (doanh nghiệp chưa xác định được chi phí tương ứng với doanh thu, doanh nghiệp đã kê khai tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ trên doanh thu thu được tiền) và thời điểm bàn giao nhà kể từ ngày 01/7/2013 thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng nhà này được áp dụng thuế suất 10%.

Thông tư 141 có hiệu lực thi hành từ 30/11/2013.

Theo Chinhphu.vn

Dạy thêm khi chưa được cấp phép bị phạt đến 12 triệu đồng

T7, 10/26/2013 - 20:54

Theo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục vừa được Chính phủ ban hanh, vi phạm quy định về dạy thêm sẽ bị phạt đến 12 triệu đồng.

 
        
Ảnh minh họa     

Cụ thể, phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm không đảm bảo cơ sở vật chất theo quy định. Đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm không đúng đối tượng sẽ bị phạt tiền từ 2-4 triệu đồng.

Phạt tiền từ 4-6 triệu đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm không đúng nội dung đã được cấp phép. Đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm khi chưa được cấp phép sẽ bị phạt tiền từ 6-12 triệu đồng.

Phạt đến 20 triệu đồng nếu thu các khoản trái quy định

Theo Nghị định, vi phạm quy định về học phí, lệ phí bị xử phạt theo quy định tại Nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí.

Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi không công khai thu, chi tài chính theo quy định. Đối với hành vi tổ chức thu các khoản trái quy định sẽ bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng.

Phạt nặng hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ

Nghị định cũng quy định cụ thể mức phạt đối với vi phạm quy định về sử dụng và công khai thông tin cấp văn bằng, chứng chỉ.

Cụ thể, phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi không cập nhật và công khai thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử của đơn vị. Đối với hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ của người khác hoặc sử dụng văn bằng chứng chỉ bị tẩy, xóa, sửa chữa sẽ bị phạt tiền từ 2-8 triệu đồng.

Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả. Đối với hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ sẽ bị phạt tiền từ 20- 40 triệu đồng.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/12/2013.

Theo Chinhphu.vn

 

Hỗ trợ chi phí phẫu thuật tim cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh

T6, 10/25/2013 - 09:42

Trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh sẽ được hỗ trợ chi phí khám, phẫu thuật tim và cả tiền ăn, tiền đi lại trong mỗi đợt khám, phẫu thuật.

 
        Ảnh minh họa    

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định về chính sách hỗ trợ phẫu thuật tim cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh.

Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ này là trẻ em có Thẻ bảo hiểm y tế: Thuộc hộ gia đình nghèo; thuộc hộ gia đình cận nghèo; thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật.

Trong mỗi đợt khám, phẫu thuật tim, trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh sẽ được hỗ trợ chi phí khám bệnh có liên quan đến phẫu thuật tim, chi phí phẫu thuật tim. Cụ thể, Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, phẫu thuật tim theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; ngân sách địa phương thanh toán phần chi phí mà Quỹ bảo hiểm y tế không thanh toán.

Ngoài ra, trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh còn được hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại trong mỗi đợt khám, phẫu thuật tim. Cụ thể, ngân sách địa phương hỗ trợ tiền ăn với mức 50.000 đồng/trẻ em/ngày, trong thời gian không quá 15 ngày; ngân sách địa phương hỗ trợ tiền đi lại theo giá phương tiện công cộng thông thường.

Việc khám bệnh có liên quan đến phẫu thuật tim và phẫu thuật tim cho trẻ em thuộc đối tượng của Quyết định này chỉ thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế.

Nguồn kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ được lấy từ Quỹ bảo hiểm y tế; Ngân sách Nhà nước; Quỹ bảo trợ trẻ em, Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo; hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2013.

Theo Chinhphu.vn

Tiếp tục giữ ổn định giá xăng, dầu

T6, 10/25/2013 - 09:16

Bộ Tài chính vừa có văn bản số 14239/BTC-QLG gửi các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối về việc điều hành kinh doanh xăng dầu.

Theo đó, Bộ Tài chính căn cứ diễn biến giá xăng dầu thế giới trong thời gian gần đây; trên cơ sở nguyên tắc tính toán giá cơ sở theo các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, Thông tư số 234/2009/TT-BTC (trong đó thuế suất thuế nhập khẩu, mức trích Quỹ Bình ổn giá xăng dầu như quy định hiện hành) thì chênh lệch giữa giá bán hiện hành và giá cơ sở bình quân 30 ngày từ ngày 21/9/2013 đến ngày 20/10/2013 các mặt hàng xăng dầu như sau:

Đơn vị tính: VNĐ/lít, kg
 Mặt hàng    Giá bán hiện hành    Giá cơ     sở    Mức chênh lệch giữa giá bán   hiện hành với giá cơ sở tính toán theo quy định       
     (1)    (2)    (3) =(1)-(2)       
1. Xăng RON 92    23.880    24.084    - 204       
2. Dầu diesel 0,05 S    22.310    22.902    - 592       
3. Dầu hoả    22.020    22.934    -914       
4. Dầu mazut 3,5S    18.510    18.778    -268    
 Ghi chú: (+) giá hiện hành cao hơn giá cơ sở; (-) giá hiện hành thấp hơn giá cơ sở; giá bán hiện hành lấy theo giá bán hiện hành của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam.

Trên cơ sở chênh lệch giữa giá bán hiện hành và giá cơ sở theo tính toán như trên, thực hiện việc chia sẻ hài hòa lợi ích người tiêu dùng, doanh nghiệp và cân đối ngân sách Nhà nước, Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối giữ ổn định giá bán; thuế suất thuế nhập khẩu, mức trích Quỹ Bình ổn giá đối với các mặt hàng xăng, dầu như hiện hành.

Đối với mặt hàng xăng: Giảm mức sử dụng Quỹ Bình ổn giá 100 đồng/lít (từ 300 đồng/lít xuống còn 200 đồng/lít).

Đối với mặt hàng dầu diesel: Tiếp tục tạm tính lợi nhuận định mức 100 đồng/lít trong cơ cấu giá cơ sở và sử dụng Quỹ Bình ổn giá 300 đồng/lít.

Đối với mặt hàng dầu hỏa: Tiếp tục tạm tính lợi nhuận định mức 100 đồng/lít trong cơ cấu giá cơ sở; và giảm mức sử dụng Quỹ Bình ổn giá 100 đồng/lít (từ 800 đồng/lít xuống còn 700 đồng/lít).

Đối với mặt hàng dầu mazut: Cho phép các doanh nghiệp được phép sử dụng Quỹ Bình ổn giá 200 đồng/kg.

Bộ Tài chính yêu cầu thời điểm thực hiện đối với mức sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu áp dụng từ 20 giờ 00 phút ngày 22/10/2013.

Bộ Tài chính thông báo và yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối báo cáo tình hình thực hiện về Liên Bộ Tài chính-Công Thương để Liên Bộ theo dõi, giám sát theo quy định.

Theo Chinhphu.vn

Trợ cấp ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ

T6, 10/25/2013 - 09:14

 Theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi, bổ sung năm 2012 thì thân nhân liệt sĩ (cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ) được hưởng trợ cấp ưu đãi như sau:

- Trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử

- Trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con liệt sĩ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng.

Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng liệt sĩ cô đơn không nơi nương tựa, con liệt sĩ mồ côi cả cha mẹ quy định tại điểm này thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng.

- Khi báo tử, liệt sĩ không còn thân nhân quy định tại khoản 1 Điều này thì người thừa kế của liệt sĩ giữ Bằng "Tổ quốc ghi công" được hưởng khoản trợ cấp tiền tuất một lần như đối với thân nhân liệt sĩ.

- Liệt sĩ không còn thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người được giao thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp mỗi năm một lần.

Trường hợp được công nhận là liệt sĩ năm 2013, nếu còn thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng theo qui định nêu trên thì thời điểm hưởng theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ, cụ thể như sau:

Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày 1/1/2013;

Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng từ nhỏ, sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở  lên được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận.

Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận.

Mức trợ cấp hàng tháng đối với thân nhân của một liệt sĩ từ ngày 1/1/2013 đến ngày 30/6/2013 là 1.110.000 đồng (theo quy định tại Nghị định số 47/2012/NĐ-CP ngày 28/5/2012 của Chính phủ); từ ngày 1/7/2013 trở đi là 1.220.000 đồng (theo quy định tại Nghị định số 101/2013/NĐ-CP ngày 04/9/2013 của Chính phủ).

TH-ND

Vi phạm hành chính về quyền tác giả phạt đến 500 triệu đồng

T5, 10/24/2013 - 11:04

Theo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan đối với cá nhân là 250 triệu đồng, đối với tổ chức là 500 triệu đồng.

Ảnh minh họa

Xâm phạm quyền đứng tên tác phẩm phạt đến 3 triệu đồng

Nghị định quy định phạt tiền từ 2-3 triệu đồng đối với hành vi sử dụng tác phẩm mà không nêu tên thật, bút danh tác giả, tên tác phẩm hoặc nêu không đúng tên thật hoặc bút danh tác giả, tên tác phẩm trên bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.

Đối với hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả sẽ bị phạt tiền từ 3-5 triệu đồng. Nếu xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả thì bị phạt mức cao hơn, từ 5-10 triệu đồng.

Xử phạt liên quan đến sai phạm trong biểu diễn tác phẩm trước công chúng 

Đối với hành vi biểu diễn trực tiếp tác phẩm trước công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 5-10 triệu đồng. 

Mức phạt từ 10-15 triệu đồng sẽ được áp dụng đối với hành vi biểu diễn tác phẩm thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

Phạt tiền từ 15-30 triệu đồng đối với hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

Xâm  phạm quyền sao chép tác phẩm bị phạt đến 35 triệu đồng

Đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị phạt tiền từ 15-35 triệu đồng.

Ngoài ra, hành vi nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định sẽ bị phạt nặng với mức phạt từ 200-250 triệu đồng.

Nghị định nêu rõ, các mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân vi phạm. Nếu tổ chức vi phạm thì mức phạt sẽ tăng gấp 2 lần.

Ngoài phạt tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc sửa lại đúng tên tác giả, tên tác phẩm, tên người biểu diễn; buộc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan...

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2013.

 

Theo Chinhphu.vn

Từ 15/11, vận hành thông quan hàng hóa tự động

T5, 10/24/2013 - 10:59

Để tăng tốc hiện đại hóa, Tổng cục Hải quan đã phát đi thông điệp gửi đến cộng đồng doanh nghiệp, cùng đồng lòng với ngành Hải quan thực hiện thành công thủ tục hải quan điện tử và dự án thông quan hàng hóa tự động (VNACCS/VCIS) chính thức chạy thử từ 15/11/2013.

Ảnh minh họa

 

Hiện nay, Hải quan Việt Nam đã vào chặng tăng tốc, triển khai tập huấn ứng dụng VNACCS/VCIS đến các đơn vị trực thuộc, các cục hải quan, cộng đồng doanh nghiệp.

Tổng cục Hải quan đề nghị các doanh nghiệp tích cực tham gia vào giai đoạn chạy thử VNACCS/VCIS. (thông tin hướng dẫn chi tiết tại http://www.customs.gov.vn

Thông quan hàng hóa chỉ tính bằng giây

Dự án Hệ thống thông quan hàng hóa tự động (VNACCS/VCIS) do Chính phủ Nhật Bản viện trợ đang được Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan gấp rút hoàn thiện, sẽ chính thức được vận hành kể từ cuối quý I/2014.

Áp dụng VNACCS/VCIS sẽ thay đổi căn bản phương thức quản lý của Hải quan Việt Nam, tự động hóa ở cấp độ cao dựa trên ứng dụng các phần mềm điện tử, cho phép nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp gấp nhiều lần so với hiện nay.

Theo Tổng cục Hải quan, VNACCS/VCIS là bước nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm soát và thông quan hàng hóa của thủ tục hải quan điện tử. Đến nay đã có gần 40.000 doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử.

Việc triển khai VNACCS/VCIS sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp như thời gian thông quan nhanh hơn, độ chính xác cao hơn, ổn định hơn. Việc kiểm tra cho phép thông quan một lô hàng chỉ tính bằng giây, thay cho thời gian 5 đến 15 phút cho một lô hàng thông quan điện tử. 

Tổng cục Hải quan cũng cho biết, từ ngày 15/11/2013 đến ngày 15/2/2014, Tổng cục Hải quan sẽ tổ chức đợt chạy thử Hệ thống VNACCS/VCIS cho tất cả doanh nghiệp làm thủ tục hải quan và các bên liên quan. 

Theo Chinhphu.vn

Thông báo lựa chọn tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản tại điểm mangan Bản Mặc-Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh

T5, 10/24/2013 - 10:53

Ngày 10/10/2013, UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Thông báo số 2906/TB-UBND, về việc lựa chọn tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản tại điểm mangan Bản Mặc-Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh.

Điểm mangan Bản Mặc - Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng đã được công bố là khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ theo Quyết định số 1236/QĐ-UBND, ngày 25/7/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt kết quả khoanh định các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ - Đợt 1 năm 2013; ngày 20/9/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1496/QĐ-UBND, về việc phê duyệt các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng là khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản.

Theo đó, UBND tỉnh Cao Bằng thông báo lựa chọn tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản tại điểm mangan Bản Mặc-Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh kể từ ngày 10/10/2013.

Điểm mangan Bản Mặc-Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh có diện tích 9,6 ha; các tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản theo quy định tại điều 34 Luật Khoáng sản năm 2010 nếu có nguyện vọng, được thăm dò tại điểm mangan Bản Mặc-Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng thì nộp hồ sơ đề nghị thăm dò khoáng sản điểm mangan Bản Mặc – Pác Riếc, xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 10/11/2013.

 

P.V

Xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh

T5, 10/24/2013 - 10:34

Theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương sẽ xây dựng 17 văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này.

Cụ thể,  Bộ Quốc phòng sẽ chủ trì xây dựng 8 văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh. Trong đó Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh; quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Hội đồng Giáo dục Quốc phòng và an ninh Trung ương, Hội đồng Giáo dục Quốc phòng và an ninh quân khu; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục Quốc phòng và an ninh các cấp sẽ được trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2013 và dự kiến ban hành trong tháng 12/2013.

Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng cũng chủ trì xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, quy định điều kiện thành lập trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi cả nước. Quyết định này sẽ được ban hành vào tháng 6/2014.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng 6 văn bản chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh. Trong đó, có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề; Đề án đào tạo giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2014-2020. Các Quyết định này sẽ được trình vào tháng 3/2014 và dự kiến ban hành vào tháng 4/2014.

Thông tư liên tịch quy định định mức, chế độ, chính sách, cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cũng sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ Quốc phòng, Công an, Nội vụ, Tài chính, Lao động-Thương binh và Xã hội xây dựng, dự kiến ban hành vào tháng 7/2014.

Ngoài Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ tướng Chính phủ cũng phân công một số bộ khác chủ trì xây dựng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.

Cụ thể, Bộ Công an sẽ ban hành Thông tư quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Công an về giáo dục quốc phòng và an ninh; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh trong Công an nhân dân Việt Nam vào tháng 6/2014.

Cũng vào tháng 6/2014, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư quy định chương trình, nội dung, tổ chức thực hiện Chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh cho người học trong cơ sở dạy nghề; Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng chương trình, nội dung phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân.

Ngoài ra, Kế hoạch cũng phân công cụ thể các bộ chủ trì biên soạn và  phát hành sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu giáo dục quốc phòng và an ninh; xây dựng các Đề án thực hiện Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.

Theo Chinhphu.vn

Thông báo về công tác đảm bảo an toàn thông tin

T5, 10/24/2013 - 10:28

Thực hiện Công văn số 244 - CV/VNCERT-KTHT của Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) về việc thông báo cung cấp tài liệu hướng dẫn công tác đảm bảo an toàn thông tin. Để nâng cao kiến thức, khả năng bảo mật an toàn thông tin cho các cán bộ, công chức tỉnh Cao Bằng, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng đăng tải các tài liệu về hướng dẫn và thông báo về công tác đảm bảo an toàn thông tin như sau:

1. Hướng dẫn sử dụng an toàn thư điện tử công vụ.

2. Hướng cài đặt và sử dụng an toàn mật khẩu.

3. Hướng dẫn phát hiện thư giả mạo.

4. Bản tin thông báo an toàn thông tin tháng 08/2013: Công bố danh sách điểm yếu ATTT trong nền tảng Microsoft và các biện pháp khắc phục.

Từ nay, Trung tâm VNCERT sẽ tăng cường sử dụng phương pháp gửi thông báo và hướng dẫn kỹ thuật tới các địa chỉ thư điện tử đã đăng ký làm đầu mối liên lạc trong mạng lưới ứng cứu sự cố. Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, mọi thông tin chi tiết xin vui lòng liên hệ đầu mối ứng cứu sự cố Sở Thông tin Truyền thông Cao Bằng:

- Nông Văn Thịnh - Phòng Kỹ thuật và CGCN, Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông - Điện thoại: 098.2650688 - Email: thinhnv@caobang.gov.vn

- Vương Ngọc Ninh - Phòng Quản lý Công nghệ thông tin, Sở Thông tin Truyền thông - Điện thoại: 098.5419666 - Email: ninhnv@caobang.gov.vn

 

TH - ND

Tăng cường quản lý giá sữa nhập khẩu

T5, 10/24/2013 - 10:26

Tổng cục Hải quan vừa có văn bản yêu cầu các cục hải quan tỉnh, thành phố tiếp tục quản lý giá sữa ngay từ khâu nhập khẩu, góp phần bình ổn giá thị trường, chống gian lận thương mại qua việc khai báo giá nhập khẩu không chính xác.

Tăng cường kiểm tra sữa nhập khẩu

 

Cụ thể, Tổng cục Hải quan yêu cầu Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện rà soát ngay các mặt hàng sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi thuộc hàng hóa thực hiện bình ổn giá nêu tại Điều 1 Thông tư 30/2013/TT-BYT ngày 4/10/2013 có nhập khẩu tại địa phương từ đầu năm 2013 đến nay, tổ chức thu thập thông tin và xây dựng, sửa đổi, bổ sung vào Danh mục quản lý rủi ro cấp Cục theo đúng quy định.

Đồng thời, thực hiện kiểm tra, tham vấn, xác định trị giá tính thuế đối với các mặt hàng sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi nhập khẩu.

Cùng với đó, thực hiện kiểm tra sau thông quan để xử lý theo quy định đối với những trường hợp trị giá khai báo có sự biến động tăng cao trên 15% so với mức giá tại cơ sở dữ liệu giá.

Theo Chinhphu.vn

 

Sử dụng kinh phí khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường

T5, 10/24/2013 - 10:23

Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015.

Ảnh minh họa

 

Thông tư liên tịch nêu rõ, nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước chi hỗ trợ các nhiệm vụ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm các nội dung: Điều tra khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường để xây dựng dự án; thực hiện các hoạt động xử lý, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; kiểm tra, nghiệm thu dự án.

Cụ thể, nguồn vốn sự nghiệp môi trường hỗ trợ cải tạo, nâng cấp hệ thống thu gom, xử lý chất thải tập trung tại các làng nghề bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng; xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu.

Nguồn đầu tư phát triển sẽ hỗ trợ xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải tập trung; xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm tại các làng nghề bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng.

Thông tư cũng quy định rõ mức hỗ trợ từ nguồn vốn Trung ương cho các dự án.

Theo đó, hỗ trợ tối đa không quá 50% tổng kinh phí đối với dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.

Hỗ trợ tối đa không quá 50% tổng kinh phí đối với dự án cải thiện và phục hồi môi trường tại một số khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu; hỗ trợ không quá 20%  tổng kinh phí đối với dự án thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên, thuộc 3 lưu vực sông Nhuệ- sông Đáy, sông Cầu và hệ thống sông Đồng Nai.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 1/12/2013.

Theo Chinhphu.vn

Phạt đến 200 triệu đồng với tổ chức vi phạm trong lĩnh vực sử dụng năng lượng

T5, 10/24/2013 - 10:19

Theo quy định tại Nghị định số 134/2013/NĐ-CP, ngày 17/10/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, mức phạt tiền trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi vi phạm.

Theo đó, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm tại quy định này được áp dụng để xử phạt đối với cá nhân, trừ các trường hợp quy định đối tượng vi phạm là tổ chức hoặc đơn vị điện lực. Khi xử phạt đối với tổ chức hoặc đơn vị điện lực, thì mức tiền phạt bằng 2 lần mức tiền phạt đối với cá nhân. Trong đó, mức phạt tiền trong lĩnh vực điện lực tối đa là 50 triệu đồng đối với cá nhân, 100 triệu đồng đối với tổ chức hoặc đơn vị điện lực; mức phạt tiền trong lĩnh vực an toàn đập thủy điện tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân, 200 triệu đồng đối với tổ chức; công trình đập thủy điện từ cấp II trở lên thì áp dụng 100%, từ cấp III trở xuống áp dụng 70% mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm an toàn đập thủy điện quy định tại Nghị định này.

Một vụ giấu thiết bị ăn cắp điện trên trần nhà bị phát giác.

Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức hoặc đơn vị điện lực có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng làm phương tiện vi phạm; tước quyền sử dụng Giấy phép xây dựng, Giấy chứng nhận hoặc Chứng chỉ có thời hạn; đình chỉ có thời hạn hoạt động tích nước hồ thủy điện... và còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả đã gây ra.

Nghị định cũng quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND các cấp, Thanh tra, Công an nhân dân, thủ trưởng cơ quan Điều tiết điện lực và các lực lượng khác.

Về thủ tục xử phạt, Nghị định quy định rõ, khi có vi phạm hành chính, người vi phạm bị phát hiện sẽ bị lập biên bản vi phạm hành chính, bị tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm trong trường hợp phát hiện hành vi trộm cắp điện. Cá nhân, tổ chức sử dụng điện bị xử phạt vi phạm mà không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì có thể bị cưỡng chế thi hành bằng biện pháp ngừng cung cấp điện. Trường hợp có hành vi trộm cắp điện từ 20.000 kWh trở lên, người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã cấp Giấy phép hoạt động điện lực để xem xét thu hồi Giấy phép hoạt động Điện lực.

Nghị định 134/2013/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12/2013. Những nội dung khác có liên quan không quy định tại Nghị định này được thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nghị định số 68/2010/NĐ-CP, ngày 15/6/2010 của Chính phủ và Nghị định số 73/2011/NĐ-CP, ngày 24/8/2011 của Chính phủ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 134/2013/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực./.

Theo cpv.org.vn

Khai sai thuế bị phạt 20% số tiền thuế khai thiếu

T5, 10/24/2013 - 10:09

Theo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, người nộp thuế là tổ chức, cá nhân khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì bị phạt 20% số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm cao hơn so với quy định.

Ảnh minh họa

Theo Nghị định, có 4 trường hợp khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, gồm:

- Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm nhưng người nộp thuế đã ghi chép kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ.

- Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm không thuộc trường hợp quy định nêu trên nhưng khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, người vi phạm đã tự giác nộp đủ số tiền thuế khai thiếu vào ngân sách Nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính thuế hoặc cơ quan thuế lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế.

- Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man trốn thuế, nhưng người nộp thuế vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách Nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì cơ quan thuế lập biên bản ghi nhận để xác định lại hành vi khai thiếu thuế.

- Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm nhưng khi cơ quan thuế kiểm tra phát hiện, người mua chứng minh được lỗi vi phạm sử dụng hoá đơn bất hợp pháp thuộc về bên bán hàng và người mua đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.

Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm nêu trên là 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế đã được hoàn, số thuế được miễn, giảm cao hơn so với quy định của pháp luật thuế.

Phạt nặng hành vi trốn thuế

Nghị định cũng quy định trường hợp người nộp thuế là tổ chức có một trong các hành vi: Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hoá đơn, chứng từ; hoá đơn không có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm; huỷ bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm...; nếu vi phạm lần đầu (không thuộc 4 trường hợp khai sai kể trên), hoặc vi phạm lần thứ hai mà có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên thì mức phạt tiền là 1 lần tính trên số thuế trốn, gian lận.

Nghị định cũng quy định cụ thể một số trường hợp phạt tiền từ 1,5-3 lần tính trên số tiền thuế trốn đối với tổ chức vi phạm nhiều lần hoặc có tình tiết tăng nặng. Trong đó, sẽ phạt tiền 3 lần tính trên số tiền thuế trốn đối với tổ chức khi vi phạm từ lần thứ hai mà có 2 tình tiết tăng nặng trở lên hoặc vi phạm lần thứ 3 có tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ tư trở đi.

Nếu cá nhân vi phạm thì mức phạt bằng 1/2 mức phạt đối với tổ chức.

Theo Chinhphu.vn

Điều kiện ký hợp đồng mua bán điện sinh hoạt

T5, 10/24/2013 - 10:06

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, trong đó quy định cụ thể điều kiện ký hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt.

Ảnh minh họa

 

Cụ thể, bên mua điện phải có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và có giấy đề nghị mua điện kèm theo bản sao của một trong các giấy tờ sau: Hộ khẩu thường trú, hoặc sổ tạm trú; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc quyết định phân nhà; hợp đồng mua bán nhà hợp lệ; hợp đồng thuê nhà có thời hạn từ 1 năm trở lên; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trên đất đã có nhà ở); Hợp đồng ủy quyền quản lý và sử dụng nhà được công chứng hoặc chứng thực.

Bên bán điện có lưới điện phân phối đủ khả năng cung cấp điện đáp ứng nhu cầu của bên mua điện.

Bên bán điện phải ký hợp đồng và cấp điện cho bên mua điện trong thời hạn 7 ngày làm việc khi có đủ các điều kiện quy định trên.

Trường hợp chưa có lưới điện phân phối hoặc lưới điện phân phối bị quá tải có xác nhận của cơ quan Điều tiết điện lực hoặc cơ quan được ủy quyền, bên bán điện phải trả lời cho bên mua điện trong thời hạn 5 ngày làm việc trong đó nêu rõ thời hạn dự kiến cấp điện được.

Thực hiện bảo đảm hợp đồng nếu tiêu thụ điện từ 1 triệu kWh/tháng trở lên

Bên cạnh quy định điều kiện ký hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt, Nghị định cũng quy định cụ thể việc bảo đảm thực hiện hợp đồng  mua bán điện. Theo đó, bên mua điện là khách hàng sử dụng điện có sản lượng điện tiêu thụ bình quân từ 1.000.000 kWh/tháng trở lên có trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước khi hợp đồng mua bán điện có hiệu lực.

Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng do các bên mua, bán điện thỏa thuận, nhưng không vượt quá 15 ngày tiền điện, được tính trên cơ sở sản lượng điện tiêu thụ trung bình tháng đăng ký trong hợp đồng mua bán điện và giá điện năng giờ bình thường được áp dụng.

Biện pháp, hình thức, hiệu lực bảo đảm, quyền và nghĩa vụ trong việc bảo đảm do các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng mua bán điện; khuyến khích thực hiện biện pháp bảo lãnh qua ngân hàng.

Bên bán điện có quyền ngừng cấp điện cho bên mua điện trong trường hợp bên mua điện không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, không duy trì biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.

Quy định về bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán điện không áp dụng đối với các hợp đồng mua bán điện đã có hiệu lực trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực (ngày 10/12/2013), trừ các hợp đồng mua bán điện mà hai bên đã có thỏa thuận về bảo đảm thực hiện hợp đồng.

Theo Chinhphu.vn

 

Lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa

T7, 10/19/2013 - 13:09

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý để cấp bảo lãnh tín dụng (bảo lãnh vay vốn) cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vay vốn bằng đồng Việt Nam tại các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quy chế quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (gọi tắt là Quỹ bảo lãnh tín dụng) tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

ảnh minh họa

Quỹ bảo lãnh tín dụng do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý để cấp bảo lãnh tín dụng (bảo lãnh vay vốn) cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Quỹ bảo lãnh tín dụng là một tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Vốn hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng được hình thành từ các nguồn: Vốn điều lệ (gồm vốn cấp của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; vốn góp của các tổ chức tín dụng; vốn góp của các doanh nghiệp khác; vốn góp của các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức đại diện và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa); vốn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA) trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa; vốn bổ sung từ kết quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định; các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định.

4 điều kiện thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng

Quỹ bảo lãnh tín dụng được thành lập khi có đủ 4 điều kiện:

1- Có đủ mức vốn điều lệ tối thiểu là 30 tỷ đồng do ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp.

2- Có Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng được Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chấp thuận, thông qua, dự thảo điều lệ, phương án tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng phù hợp với quy định.

3- Danh sách dự kiến Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát và Ban điều hành gồm những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng.

4- Ứng cử viên cho các chức danh Giám đốc, Phó Giám đốc điều hành, Trưởng ban kiểm soát của Quỹ bảo lãnh tín dụng phải có bằng đại học chuyên ngành tài chính ngân hàng trở lên và có tối thiểu 05 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng.Cơ cấu tổ chức quản lývà điều hành của Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm có: Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát, Ban điều hành.Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật thành viên của Hội đồng quản lý, Giám đốc và các Phó Giám đốc của Quỹ bảo lãnh tín dụng do Chủ tịch 

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.

4 điều kiện được cấp bảo lãnh tín dụng

Quy chế nêu rõ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ được Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét, cấp bảo lãnh khi hội đủ 4 điều kiện.

Thứ nhất, có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay. Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh được Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảo lãnh theo quy định tại Quy chế này.

Thứ hai, có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 15% giá trị khoản vay. 

Thứ ba, có tối thiểu 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh.

Thứ tư, tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, không có các khoản nợ đọng nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế khác.Quỹ bảo lãnh tín dụng có thể cấp bảo lãnh một phần hoặc bảo lãnh toàn bộ phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của bên được bảo lãnh tại tổ chức tín dụng.Bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi khoản vay của bên được bảo lãnh tại bên nhận bảo lãnh.

Mức bảo lãnh tín dụng tối đa cho một khách hàng được bảo lãnh không vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của Quỹ bảo lãnh tín dụng.

Tổng mức bảo lãnh tín dụng của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các bên được bảo lãnh tối đa không vượt quá 5 lần so với vốn điều lệ thực có của Quỹ bảo lãnh tín dụng.

Theo Chinhphu.vn

Ký quỹ xuất khẩu lao động không quá 3.000 USD

T5, 10/17/2013 - 12:02

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vừa ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BLĐTBXH quy định mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà Doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động.

Ảnh minh họa

 

Cụ thể, mức trần tiền ký quỹ sẽ tùy thuộc vào ngành nghề và thị trường tiếp nhận lao động. Mức trần thấp nhất là 300 USD đối với thị trường lao động Malaysia, Brunei, Thái Lan, Lào. Mức cao nhất là 3.000 USD đối với thực tập sinh đi Nhật Bản và lao động thẻ vàng, visa E-7, thuyền viên trên tàu cá (gần bờ) tại Hàn Quốc.

Người lao động và doanh nghiệp dịch vụ thỏa thuận về việc ký quỹ theo ngành, nghề, nước tiếp nhận lao động với mức tiền ký quỹ không quá mức trần tiền ký quỹ theo quy định.

Trường hợp người lao động không ký quỹ hoặc không đủ tiền để ký quỹ, doanh nghiệp dịch vụ có thể thỏa thuận với người lao động thực hiện bảo lãnh theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11/7/2007 của liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Việc thực hiện, quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 04/9/2007 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Theo đó, trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp có quyền yêu cầu ngân hàng trích tài khoản tiền ký quỹ của người lao động để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này doanh nghiệp phải xuất trình văn bản hoà giải thành với người lao động hoặc phán quyết đã có hiệu lực thi hành của Toà án. Số tiền ký quỹ còn thừa (nếu có) phải trả lại cho người lao động, nếu tiền ký quỹ không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung.

Mức trần tiền ký quỹ doanh nghiệp được thỏa thuận ký với người lao động tại một số thị trường:

TT

Thị trường

Ngành nghề

Mức trần tiền ký quỹ

1

Đài Loan

Công nhân nhà máy, xây dựng

1.000 USD

GVGĐ, chăm sóc sức khỏe

800 USD

Thuyền viên tàu cá xa bờ

900 USD

Ngành nghề khác

1.000 USD

2

Malaysia

Mọi ngành nghề

300 USD

3

Nhật Bản

Thực tập sinh

3.000 USD

Thuyền viên trên tàu cá xa bờ, gần bờ và tàu vận tải

1.500 USD

4

Hàn Quốc

Thuyền viên trên tàu cá (gần bờ)

3.000 USD

Thuyền viên trên tàu cá xa bờ

1.500 USD

Lao động thẻ vàng, visa E-7

3.000 USD

5

Các nước khu vực Trung Đông (Saudi Arabia, UAE, Kuwait, Barhain, Oman, Jordan, Qatar, Iran, Iraq, Lebanon, Israel, Palestine, Yemen)

Mọi ngành nghề

800 USD

6

Các nước Châu Phi

Mọi ngành nghề

1.000 USD

7

Australia và New Zealand

Mọi ngành nghề

2.000 USD

8

Vương quốc Anh

Mọi ngành nghề

2.000 USD

9

Liên bang Đức

Mọi ngành nghề

2.000 USD

10

Liên bang Nga

Mọi ngành nghề

1.000 USD

11

Các nước Châu Mỹ

Mọi ngành nghề

2.000 USD

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/12/2013.

Theo Chinhphu.vn

Quyết định công nhận thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 – 2015

T5, 10/17/2013 - 09:27

Ngày 19/9/2013, Ủy ban dân tộc đã ban hành Quyết định số 447/QĐ-UBDT về việc công nhận thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 – 2015 áp dựng thống nhất trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo đó, toàn tỉnh Cao Bằng có 38 xã thuộc khu vực I, 34 xã khu vực II, 127 xã khu vực III và có 1017 thôn đặc biệt khó khăn. Thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi làm căn cứ để xây dựng, thực hiện các chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của từng vùng, từng khu vực.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 19/9/2013 và thay thế các Quyết định: Số 301/QĐ-UBDT ngày 27/11/2006; số 05/2007/QĐ-UBDT ngày 06/9/2007; số 274/QĐ-UBDT ngày 16/9/2011 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về công nhận 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển; số 126/QĐ-UBDT ngày 07/6/2012 về công nhận bổ sung xã khu vực I, II, III thuộc 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển.

TH - ND

Đính kèmDung lượng Tải tệp đính kèm838.73 KB

Trang